Báo Mặt Trận: Mặt trận Việt Minh với Cách mạng Tháng Tám và MTTQ Việt Nam với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á ra đời là một trong những sự kiện lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam. 73 năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục thực hiện sứ mệnh tập hợp, đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ chính quyền của dân, do dân, vì dân, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.

Bài viết này thuộc danh mục:✅ Thời sự, được chúng tôi tổng hợp từ báo Mặt Trận, nguồn bài: http://tapchimattran.vn/nhan-vat/mat-tran-viet-minh-voi-cach-mang-thang-tam-va-mttq-viet-nam-voi-su-nghiep-xay-dung-va-bao-ve-to-quoc-ngay-nay-14615.html

Những năm cuối của nửa đầu thế kỷ XX, trên thế giới có nhiều biến động với các cuộc chiến tranh, xung đột và cách mạng. Đặc biệt, thắng lợi của các cuộc cách mạng và phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do ở các nước thuộc địa dẫn đến sự tan rã của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa thực dân; đồng thời, một số nước đã thay đổi kiểu nhà nước tập quyền phong kiến, lập nên nhà nước kiểu mới. Ở Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á ra đời. Trong đó, Mặt trận Việt Minh (tiền thân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay) đóng vai trò quan trọng trong việc tập hợp, đoàn kết toàn dân đấu tranh giành thắng lợi của cách mạng và xây dựng nhà nước dân chủ, của dân, do dân và vì dân cho đến ngày nay.

Từ năm 1858, khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên tấn công đánh chiếm Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, nhiều phong trào, cuộc khởi nghĩa của các tầng lớp sỹ phu, nông dân, tư sản yêu nước liên tục nổi lên để đánh đuổi thực dân, giải phóng dân tộc. Tuy nhiên các phong trào, cuộc khởi nghĩa này cuối cùng đều bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu và thất bại, do chưa có một đường lối chính trị đúng đắn và một phương pháp cách mạng khoa học. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lúc này vẫn lâm vào “tình hình đen tối tưởng như không có đường ra”. Từ bài học về sự thất bại của các phong trào, các cuộc khởi nghĩa yêu nước âý1, và truyền thống đoàn kết của dân tộc ta qua các thời kỳ lịch sử dựng nước, giữ nước, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cuộc cách mạng trong một nước thuộc địa là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ. Để đưa cuộc cách mạng đó đến thắng lợi có thể và cần phải thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đoàn kết tất cả các giai cấp và tầng lớp xã hội mong muốn được giải phóng khỏi ách thuộc địa"2. Nội dung tư tưởng đó của Người được thể hiện trong Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) với việc khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc Thống nhất, tạo thành một lực lượng có tổ chức của khối đoàn kết dân tộc, vì mục tiêu chung: giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Trên cơ sở đó, tháng 10/1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Luận cương chính trị và "Án nghị quyết về vấn đề phản đế", trong đó nói rõ việc hình thành tổ chức phản đế là một nhiệm vụ cần kíp của Đảng. Ngày 18/11/1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh - hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (MTDTTNVN). Từ đó đến nay, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, MTDTTNVN đã có nhiều hình thức, tổ chức với tên gọi khác nhau, nhưng mục tiêu tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội thành một lực lượng to lớn để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không hề thay đổi.

Trong giai đoạn 1930 - 1940, khi chưa giành được chính quyền, các hình thức tổ chức của MTDTTNVN, như: Hội Phản đế Đồng minh (1930), Phản đế Liên minh (1935), Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế (1936), Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương (1938), Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế (1939) đã tập hợp, đoàn kết các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội để đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, đòi tự do, dân chủ và áo cơm, tiến lên giải phóng dân tộc ra khỏi ách đô hộ của thực dân.

Năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương, thực dân Pháp đầu hàng và làm tay sai cho phát xít Nhật. Ngày 19/5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 họp và ra Nghị quyết chỉ rõ sự cần kíp của cách mạng Đông Dương hiện nay là: dân tộc giải phóng3. Theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống phát xít Pháp, Nhật với tên gọi Việt Nam Độc lập Đồng minh - gọi tắt là Việt Minh được thành lập, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt Minh và sẽ làm cờ Tổ quốc khi thành lập nước. Khẩu hiệu chính của Việt Minh là: Phản Pháp, kháng Nhật, liên Hoa, độc lập. Tuyên ngôn của Mặt trận Việt Minh khẳng định: “Việt Minh chủ trương liên hiệp các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo, chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn. Việt Minh chủ trương học tập hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi kết thành một khối vô địch đặng đập tan xiềng xích của Nhật Pháp, quét sạch mưu mô xảo trá của bọn Việt gian phản quốc, chúng đã gạch tên trong quốc tịch của người Việt Nam”4.

Mặt trận Việt Minh được tổ chức theo hệ thống từ cơ sở đến Trung ương: Ở cấp xã có Ban Chấp hành Việt Minh do các đoàn thể Việt Minh ở làng hay xã cử ra; Ở cấp tổng, huyện (hay phủ, châu, quận); tỉnh, kỳ có Ban Chấp ủy Việt Minh của mỗi cấp tương ứng; Ở cấp toàn quốc có Tổng bộ Việt Minh. Về chủ trương hành động, Mặt trận Việt Minh xác định Chương trình gồm 44 điểm, với các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa; những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp công nhân, nông dân, binh lính, công chức, học sinh, phụ nữ, thiếu nhi, người già và kẻ tàn tật, tư sản, địa chủ, nhà buôn. Để chuẩn bị cho việc thành lập chính quyền của nhân dân sau khi cách mạng giành thắng lợi, ngày 16/4/1945, Tổng bộ Việt Minh lập ra Ủy ban Dân tộc giải phóng, tổ chức các lớp huấn luyện, tập dượt cho nhân dân nắm chính quyền.

Ngày 4/6/1945, thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị cán bộ và tuyên bố chính thức thành lập Khu Giải phóng Việt Bắc gồm 2 căn cứ lớn nằm trên địa bàn của 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc các tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái,... trong Khu Giải phóng, Việt Minh là người đại diện quyền làm chủ của quần chúng, trực tiếp giải quyết mọi công việc của thôn xóm như công việc của chính quyền cách mạng. Các Ủy ban nhân dân do dân cử được hình thành và tổ chức thực hiện Chương trình 44 điểm của Việt Minh. Khu Giải phóng Việt Bắc cùng với hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và bàn đạp cho thế trận của một cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền sắp tơí5.

Từ ngày 13/8 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) để quyết định phát động khởi nghĩa khi thời cơ đến. Hội nghị ra Nghị quyết nêu rõ: “Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi… toàn dân tộc ta đang sôi nổi đợi giờ khởi khĩa giành chính quyền độc lập”6 và thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh.

Ngày 14/8/1945, Tổng bộ Việt Minh ra lời Hiệu triệu quốc dân đồng bào nêu rõ: “Phát xít Nhật đã gục đầu hàng Anh, Mỹ, Nga, Tàu… Trước cơ hội có một không hai ấy, toàn thể dân tộc ta phải đem hết lực lượng, dùng hết can đảm, bao quanh đạo quân Giải phóng Việt Nam, tung xương máu ra đánh đuổi giặc Nhật, đòi lấy tự do, hạnh phúc cho nhân dân”7.

Ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), Đại hội đại biểu quốc dân (nay gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào) chính thức khai mạc. Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy tước vũ khí của Nhật trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương, giành lấy chính quyền từ tay Nhật, lật đổ bọn bù nhìn tay sai của Nhật, đứng địa vị cầm quyền mà tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp quân Nhật trên đất Đông Dương. Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Đông Dương và Tổng bộ Việt Minh; đồng thời nhất trí thông qua 10 chính sách của Việt Minh, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh (cờ của Mặt trận Việt Minh) làm Quốc kỳ, lấy bài Tiến quân ca (của nhạc sĩ Văn Cao) làm Quốc ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; một Ủy ban Thường trực gồm 5 người: Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng và Dương Đức Hiền.

Hưởng ứng chủ trương của Đảng và lời Hiệu triệu của Việt Minh, cuộc Tổng khởi nghĩa bắt đầu từ ngày 14 đến 18/8/1945 giành được thắng lợi ở nông thôn, đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An.

Tại Hà Nội, ngày 17/8/1945, Tổng hội Viên chức của chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Nhà hát thành phố với hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, các Hội cứu quốc của Việt Minh ở nội, ngoại thành và một số huyện, phủ ở Gia Lâm, Hà Đông sát với Hà Nội bí mật huy động quần chúng tham gia mít tinh với hơn 20 vạn người, tràn ngập phía trước và chung quanh Nhà hát thành phố. Khi cuộc mít tinh vừa mới khai mạc, bất ngờ cờ đỏ sao vàng xuất hiện trên gác Nhà hát Lớn trong tiếng reo hò, cổ vũ của quần chúng nhân dân. Cảnh sát và lính bảo an ngơ ngác đứng im tại chỗ. Các đội viên Tuyên truyền xung phong của Việt Minh xông lên giành lấy diễn đàn diễn thuyết, báo tin cho đồng bào biết quân phát xít Nhật đã đầu hàng vô điều kiện và giới thiệu chủ trương, đường lối cứu nước của Việt Minh, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh đổ chính quyền bù nhìn thân Nhật, giành lấy chính quyền về tay nhân dân. Cuộc mít tinh đã biến thành cuộc biểu tình, tuần hành thị uy, bắt đầu từ Quảng trường Nhà hát thành phố lan khắp nơi trên phố phường Hà Nội. Cả Hà Nội tưng bừng khí thế sục sôi khởi nghĩa.

Trước tình thế cực kỳ hoang mang và tuyệt vọng, ngụy quyền dựng lên cái gọi là “Ủy ban chính trị” và đề nghị với Việt Minh quản lý vùng nông thôn cách thành phố 15km, vùng còn lại trong thành phố giao cho các nhân sỹ, trí thức đứng ra giao dịch với Đồng minh. Đại biểu Việt Minh đã trả lời dứt khoát, “giao dịch với Đồng Minh lúc này, ngoài Việt Minh không ai có thể có lực lượng và danh nghĩa cả”.

Ngày 19/8/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Chỉ thị số 8 nêu rõ: "Giặc Nhật đã đầu hàng Đồng minh. Các cấp hội, các Ban Chấp hành phải huy động toàn dân chúng võ trang để kịp khởi nghĩa. Các đội tự vệ, tiểu tổ du kích phải sẵn sàng! Ban Chấp hành cấp hội nào đều phải thi hành kỷ luật triệt để. Huy động bằng hình thức công khai, truyền đơn, cờ, áp phích, công khai biến thành võ trang, bắt giữ bọn Việt gian, tước khí giới giặc Nhật,... Tình thế cấp bách phải thi hành triệt để Chỉ thị không được chậm trễ.

Các đồng chí phải nỗ lực hy sinh cho Tổ quốc"8.

Sáng ngày 19/8/1945, theo lời kêu gọi và thực hiện Chỉ thị của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng với hàng nghìn nông dân, công nhân, dân nghèo, bằng những vũ khí thô sơ, cùng với hàng vạn quần chúng nhân dân ở khu vực ngoại thành kéo vào, xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố. Đúng 11 giờ, cuộc mít tinh bắt đầu. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca, đại biểu Ủy ban Quân sự cách mạng đọc lời Hiệu triệu của Việt Minh, quân Nhật đã đầu hàng, chính quyền đã về tay nhân dân, thành lập Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam. Quần chúng nhân dân hô vang các khẩu hiệu hưởng ứng, vui mừng. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm Phủ Khâm sứ, trại lính Bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn9.

Tại Huế, ngày 22/8/1945, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị, vì chính quyền đã giành về tay nhân dân, Bảo Đại tuyên bố chấp nhận thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy. Ngày 25/8, hàng ngàn người dân Huế tụ tập trước cửa Ngọ Môn để chứng kiến lễ thoái vị của Bảo Đại và bàn giao ấn kiếm cho Việt Minh. Tại miền Nam, ngày 25/8/1945, Việt Minh mà Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn (nơi chịu sự cai trị trực tiếp của Nhật).

Như vậy, chỉ trong vòng 12 ngày, từ ngày 14/8 đến ngày 25/8/1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và ngọn cờ của Việt Minh, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đánh dấu bước tiến nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Lần đầu tiên giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền trong cả nước; nhà nước kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ra đời. Trong đó, Mặt trận Việt Minh đã thực hiện xuất sắc 2 nhiệm vụ: vừa tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội đấu tranh giành thắng lợi của cách mạng; vừa từng bước chuẩn bị công việc của chính quyền, để khi giành được chính quyền thì lập nên một nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân.

Vai trò của Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và xây dựng nhà nước kiểu mới đầu tiên ở Đông Nam Á không ngừng được phát huy trong các tổ chức của Mặt trận sau này: Hội Liên Việt (1946); Mặt trận Liên Việt (1951); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (ở miền Bắc - 1955); Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960); Liên minh Các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam (1968) và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay.

Ngày nay, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục kế thừa và phát huy vai trò của Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám và các tổ chức Mặt trận trước đây, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cả hệ thống chính trị nước ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề như sau:

Thực hiện có hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động để nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; mục tiêu, giải pháp thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, công tác đối ngoại; đồng thời, phải lắng nghe, tiếp nhận ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, hiểu nhân dân đang cần gì đối với các chủ trương, chính sách ấy, trên cơ sở đó tạo ra sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong hành động.

Thực hiện tốt hơn nữa vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; là nơi tin cậy để nhân dân gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của mình trong quá trình thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, động viên nhân dân phát huy mọi khả năng sáng tạo, hiến kế, hiến công, tham gia tích cực vào nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và của mỗi địa phương, góp phần hiện thực hóa mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Mặt trận phải làm tốt việc tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Trong xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải làm tốt vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân được thể hiện qua các nhiệm vụ cụ thể quy định tại các chương, điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015, đặc biệt là khâu chuẩn bị nhân sự xây dựng bộ máy chính quyền các cấp và giám sát việc thực hiện công vụ. Mặt trận phải thực hiện tốt việc chuẩn bị, lựa chọn con người đưa vào bộ máy chính quyền các cấp qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp: Phải thực sự có đức, có tài. Đồng thời, Mặt trận cần thực hiện tốt hơn nữa chức năng giám sát và phản biện xã hội; tích cực vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia có hiệu quả vào nhiệm vụ đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí hiện nay, góp phần làm cho tổ chức Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh. Muốn làm được việc này, trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng theo quy định tại Điều 4 của Hiến pháp, Đảng và Nhà nước phải tạo cơ chế để Mặt trận có đủ điều kiện về tính độc lập về tổ chức, chủ động trong công việc, không bị lệ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ ai.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng sâu sát với dân, hướng về cơ sở tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục đóng góp hiệu quả vào việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về đường lối cách mạng Việt Nam giai đoạn mới; về xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Vai trò của Mặt trận Việt Minh trong Cách mạng Tháng Tám cũng như vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay vừa là một trong những nội dung quan trọng của đường lối cách mạng Việt Nam, vừa là một thực tiễn về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tổ chức lại trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Lê Bá Trình

PGS. TS, nguyên Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam

Tài liệu tham khảo, trích dẫn:

1. Phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ XIX; phong trào Duy Tân (1906 - 1908) của Phan Chu Trinh; phong trào Đông Du (1905 - 1909) của Phan Bội Châu; các cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1859 - 1864), Nguyễn Trung Trực (1861 - 1868), Ba Đình (1886 - 1887) của Đinh Công Tráng, Bãi Sậy (1885 - 1889) của Nguyễn Thiện Thuật, Hùng Lĩnh (1886 - 1892) của Tống Duy Tân, Hương Khê (1885 - 1896) của Phan Đình Phùng; Yên Thế (1887 - 1913) của Hoàng Hoa Thám; Thái Nguyên (1917 - 1918) của Đội Cấn, Lạng Sơn (1921) của Đội Ấn và kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930) của Việt Nam Quốc dân Đảng.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1960, trang 651.

3. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, Nxb. CTQG, HN 2004, t.1 ,tr. 278.

4. Văn kiện Đảng1930-1945, Nxb. CTQG, HN, 2000, t.3, tr. 271-272.

5. Dương Trung Quốc: Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945), Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2001, tr. 398.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2000, t.7, tr. 423.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. CTQG, HN, 2000, t.7, tr. 558.

8. Văn kiện Đảng 1930 - 1945: Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, HN, 1977, t.3, tr. 559.

9. Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: Biên niên sự kiện lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (1930-1945), Nxb. CTQG, 2004, t.1, tr.412.

Tìm kiếm:✨

  • Cách mạng tháng tám, Nhân dân, Hồ Chí Minh, Cách mạng, Thắng lợi, Đất nước, Đổi mới, Giành chính quyền, Đoàn kết, Năm 1945, Quảng trường ba đình, Đảng cộng sản việt nam, Việt Minh, DÂN GIÀU, Của Dân, Dân tộc ta, Việt nam, Tuyên Quang, Đông Nam Á, Trần Trọng Kim, Tại Sài Gòn, Tổng bộ việt minh, Cướp chính quyền, Cách mạng giải phóng dân tộc, Chủ nghĩa thực dân, Chủ nghĩa phát xít, Mặt trận dân tộc thống nhất, Ngụy quân, Rải truyền đơn, Chủ nghĩa xã hội

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Báo ĐS&PL: Cộng đồng mạng rơi nước mắt trước cảnh bé gái vừa ngồi học vừa trông em nhỏ

Báo Nhân Dân: Tiêm bổ sung vaccine sởi - rubella cho hơn bốn triệu trẻ em

Báo PetroTimes: Lên lịch ghé mùa vàng Mù Cang Chải và trải nghiệm Festival dù lượn 2018